GIAO LƯU VĂN HÓA TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM QUA MỘT SỐ PHẠM TRÙ MỸ HỌC THIỀN-LÃO – TS. Lê Đắc Tường

Người đăng: Ngày đăng: Lượt xem:

GIAO LƯU VĂN HÓA TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM QUA MỘT SỐ PHẠM TRÙ MỸ HỌC THIỀN-LÃO

CULTURAL EXCHANGE OF CHINESE AND VIETNAMESE THOUGHT THROUGH SOME AESTHETIC CATEGORIES OF CHAN-LAO

TS.Lê Đắc Tường – Trường THPT Duy Tân Kon Tum

(Bài viết đã được báo cáo và đăng trên Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam- Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông, trường ĐHKHXHNVTPHCM, tháng 8/2017)

Tóm tắt

Giữa Lão Trang và Thiền tông có sự tương hợp diệu kỳ. Từ đó đã hình thành những phạm trù mỹ học Thiền-Lão như: Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm. Các phạm trù này có nguồn gốc từ Thiền-Lão, hình thành, phát triển và tạo thành khuynh hướng lý luận quan trọng trong văn học cổ Trung Quốc. Ở Việt Nam, những phạm trù này biểu hiện rõ qua hai thời kỳ văn học Lý – Trần và Lê – Nguyễn và cũng đã tạo thành một trong những khuynh hướng lý luận chủ đạo, xuyên suốt trong văn học cổ Việt Nam.

Từ khóa: Thiền-Lão, Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm

Abstract

There was a marvelous correspondence between Lao Trang and Zen Buddhism. From then, it formed the aesthetic categories of Zen-Lao such as: Ziran, Xujing, Non- verbal, Xiaoyao, Pingdan. These categories are derived from Chan-Lao, which formed, developed and created an importart tendency in classical Chinese literature. In Vietnam, these categories were clearly dentified during 2 periods: Ly – Tran and Le – Nguyen dynasties and also formed one of the main trends in classical Vietnamese literature.

Keywords: Zen-Lao, Ziran, Xujing, Non- verbal, Xiaoyao, Pingdan

 

Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm như là “ngũ hành” tạo nên tư tưởng mỹ học Thiền-Lão. Với quan hệ tương sinh, năm phạm trù này đã tạo nên khuynh hướng lý luận độc đáo, nổi bật trong văn học cổ Trung Quốc và ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học các nước thuộc khu vực văn hóa chữ Hán, trong đó có Việt Nam.

  1. Phạm trù Tự nhiên

1.1. Tự nhiên trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận văn học cổ Trung Quốc

Tự nhiên là phạm trù bản thể luận của tư tưởng Lão Trang. Khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, kết hợp với Lão Trang hình thành Thiền tông Trung Quốc. Vì thế, tư tưởng Thiền tông cũng có quan niệm Tự nhiên giống như Lão Trang.

Trong quan niệm của Lão Trang, Tự nhiên được hiểu ở hai cấp độ. Tự nhiên là bản thể của Đạo, tức là Đạo và Tự nhiên là quy luật của vạn vật. Hai nét nghĩa này cũng được Thiền tông quan niệm. Tự nhiên theo quan niệm của Lão Trang và Thiền tông chính là “vô vi” và “vô tâm”. Tức là hốt nhiên làm, không cần cố gắng, không miễn cưỡng, không câu nệ, là làm mà không cần để ý việc mình làm nữa. Đó là hành động đến mức hoàn thiện.

Từ quan niệm về Tự nhiên của Lão Trang và Thiền tông, có thể thấy ở cấp độ mỹ học, tư tưởng Thiền-Lão là tư tưởng sùng thượng Tự nhiên. Đó là vẻ đẹp của Tự nhiên, tức Đạo, đó là vẻ đẹp của hành động “vô vi”, của quy luật Tự nhiên.

Lý tưởng sùng chuộng Tự nhiên của Thiền-Lão có ảnh hưởng rất lớn đối với nghệ thuật Trung Quốc, trong đó có quan niệm về văn học. Trong lịch sử lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, từ thời Ngụy Tấn – Nam Bắc triều đến thời Minh – Thanh đều có dấu ấn của Tự nhiên.

Khởi đầu cho khuynh hướng này là Lục Cơ trong Văn phú. Lục Cơ cho rằng cần phải tránh những sự trang sức thái quá trong văn chương và phê phán lối văn cầu kỳ mà vô vị, qua đó đề cao Tự nhiên. Lưu Hiệp, trong Văn tâm điêu long, đã đề cao Tự nhiên trong văn chương. Tự nhiên theo quan niệm của Lưu Hiệp có nét của Đạo và chủ trương vô vi mang ý vị Thiền-Lão. Chung Vinh, trong Thi phẩm, đã đề cao vẻ đẹp Tự nhiên của thơ ca, phê phán việc lạm dụng điển cố và thanh vận. Ông cho rằng trang sức che đậy không thể dẫn tới cái đẹp, chỉ có cái hồn nhiên, Tự nhiên mới mang lại cho người thưởng thức văn chương cái dư vị vô cùng. Đời Đường, sùng thượng Tự nhiên được Lý Bạch, Thích Hiệu Nhiên, Lý Thương Ẩn,… chủ trương. Đời Tống, Âu Dương Tu, Tô Đông Pha, Nghiêm Vũ đều quan niệm văn chương thuận theo Tự nhiên, phản đối văn phong cổ xưa, khó hiểu. Đời Minh, Lý Chất đề ra thuyết “dĩ tự nhiên chi vi mỹ (phải coi tự nhiên là đẹp). Đến đời Thanh, kết thúc lý luận phê bình văn học cổ Trung Quốc, Vương Sĩ Chân và Viên Mai cũng rất đề cao Tự nhiên trong sáng tác văn chương.

1.2. Tự nhiên trong lý luận văn học cổ Việt Nam

Sùng thượng Tự nhiên đã trở thành truyền thống thẩm mỹ trong văn học cổ Trung Quốc và sức ảnh hưởng của nó thì sâu rộng vô cùng. Văn học nói chung và lý luận, phê bình văn học cổ Việt Nam nói riêng cũng nằm trong nguồn mạch của sự ảnh hưởng đó.

1.2.1. Tự nhiên trong quan niệm của các tác giả thời Lý – Trần

Tự nhiên trong quan niệm văn học của các tác giả thời Lý – Trần chủ yếu ở hình thức gián tiếp, tức là biểu hiện qua tác phẩm. Trong giai đoạn này rất ít, thậm chí là không có những phát biểu trực tiếp, nhưng qua sự thể hiện trong tác phẩm, quan niệm Tự nhiên trong tư tưởng Thiền-Lão đã hiện hữu.

Trong văn học thời Lý – Trần, số lượng tác giả văn học là thiền sư chiếm đa số. Quan niệm Tự nhiên được các thiền sư thể hiện qua sáng tác với những biểu hiện: Tự nhiên – bản thể; Tự nhiên – đạt Đạo; Tự nhiên – vô vi; Tự nhiên – an nhiên, tự tại; Tự nhiên – tùy duyên; Tự nhiên – con người hợp nhất. Quan niệm này biểu hiện qua sáng tác của các thiền sư: Phan Trường Nguyên, Không Lộ, Thuần Chân, Minh Lương, Bản Tịnh, Bảo Giám, Tuệ Trung, Pháp Thuận, Hiện Quang, Chân Không, Mãn Giác, Vạn Hạnh, Thiền Lão, Huyền Quang,… Quan niệm sùng thượng Tự nhiên không chỉ có ở các thiền sư mà các tác giả khác cũng đã bộc lộ quan niệm này, tiêu biểu là Trần Anh Tông, Trần Quang Triều, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh.

Tìm hiểu về quan niệm Tự nhiên của các tác giả thời Lý -Trần, chúng ta thấy rằng, tuy không có những phát biểu trực tiếp, nhưng từ thực tiễn sáng tác, quan niệm sùng thượng Tự nhiên, ý thức về tầm quan trọng của Tự nhiên trong văn chương cũng đã được các vị bộc lộ. Văn chương chính là Đạo, là Tự nhiên. Sáng tác văn chương chính là đến với Đạo, trở về với chân tánh là phục kỳ bổn. Văn chương phải Tự nhiên, phải tùy duyên mới đến được Tự nhiên với Đạo. Tự nhiên là nơi di dưỡng tâm hồn để có thể an nhiên, tự tại trong cuộc đời. Tất cả những điều này sẽ được các tác giả giai đoạn sau thể hiện một cách trực tiếp hơn.

1.2.2. Tự nhiên trong quan niệm của các tác giả thời Lê – Nguyễn

Sau thời Lý – Trần, quan niệm sùng thượng Tự nhiên trong văn chương được các tác giả thời Lê – Nguyễn tiếp tục thể hiện rõ nét hơn, trực tiếp hơn. Tiêu biểu là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và sau đó, nhất là từ thế kỷ XVIII nhiều tác giả đã phát biểu quan niệm về sùng thượng Tự nhiên trong văn chương. Các ý kiến phát biểu tập trung vào nội dung chính: Văn chương – Tự nhiên – Đạo, Văn chương – Tự nhiên không gọt giũa.

Văn chương – Tự nhiên – Đạo là quan niệm của các tác giả tiêu biểu: Nguyễn Dưỡng Hạo, Ngô Thì Nhậm, Bùi Dương Lịch, Bùi Huy Bích, Ngô Thì Chí, Vũ Duy Thanh, Nguyễn Đức Đạt, Cao Xuân Dục. Một số tác giả còn bộc lộ quan niệm: Văn chương – quy luật Tự nhiên như: Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Quýnh, Lê Hữu Trác, Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh, Vũ Duy Thanh.

Văn chương – Tự nhiên không gọt giũa là quan niệm của nhiều tác giả, tiêu biểu: Lê Quý Đôn, Nguyễn Địch Cát, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Thông, Ngô Thì Sỹ, Cao Bá Quát, Bùi Văn Dị.

Từ chỗ chủ yếu biểu hiện trong sáng tác, phát triển đến tự ý thức thông qua những lời phát biểu trực tiếp, Tự nhiên trở thành khuynh hướng nghệ thuật và là một truyền thống thẩm mỹ trong văn học cổ điển Việt Nam.

Trên phương diện lý luận, phê bình, quan niệm sùng thượng Tự nhiên của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với quan niệm văn học Trung Quốc. Cả hai đều xem Tự nhiên là phẩm chất của văn chương, văn chương phải biểu hiện cái Tự nhiên, tức là Đạo, văn chương là cái đức của Đạo. Sáng tác văn chương phải theo quy luật của Tự nhiên, chú trọng tính Tự nhiên của văn chương và hành động vô vi trong quá trình sáng tác. Điều đó đồng nghĩa với sự phản đối cầu kỳ, gọt giũa trong văn chương.

Trong thực tiễn sáng tác, quan niệm đề cao Tự nhiên đã trở thành khuynh hướng nghệ thuật xuyên suốt trong văn học cổ điển Việt Nam. Trên phương diện loại hình tác giả, quan niệm này luôn đồng hành với những kiểu tác giả tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam. Từ thiền sư cho đến quý tộc, nho sĩ, trong sáng tác của mình đều ẩn chứa quan niệm sùng thượng Tự nhiên. Nếu quan niệm “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” của Nho giáo là để các nhà văn, nhà thơ biểu hiện ra bên ngoài nhằm kinh bang tế thế, thì quan niệm sùng thượng Tự nhiên của Thiền-Lão chủ yếu là sự biểu hiện bên trong để di dưỡng tính tình, giữ gìn sự thanh sạch của tâm hồn và cao hơn là để thể hiện sự thấu triệt chân lý cuộc đời và hướng đến sự giác ngộ, đạt Đạo.

  1. Phạm trù Hư tĩnh và Vô ngôn

2.1. Hư tĩnh trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận văn học cổ Trung Quốc

Nếu phạm trù Tự nhiên có nguồn gốc chủ yếu từ Lão Trang thì phạm trù Hư tĩnh là sản phẩm hài hòa tuyệt vời nhất của tư tưởng Thiền-Lão.

Tư tưởng Lão Trang rất đề cao Hư – Vô. Lão Tử xem Hư – Vô là nguồn gốc của vạn vật. Kế thừa Lão Tử, Trang Tử cũng đề cao Hư – Vô trong tư tưởng của mình. Ông cho rằng, chỉ có Hư mới tiếp xúc được với Đạo và Hư cũng chính là Đạo. Lão Trang quan niệm Hư – Vô là bản thể, là Đạo, tương tự như quan niệm tính Không của Phật giáo. Nguyên lý Không của Thiền Phật giáo là một khẳng định ở tầm chủ thuyết chứ không phải là một phủ định thông thường. Tính Không là tính không thực thể của mọi sự vật hiện tượng và gắn với vô ngã, vô thường. Về mặt bản thể luận, Hư – Vô – Không có điểm tương đồng giữa Lão Trang và Phật giáo Thiền tông.

Cùng với phạm trù Hư, quan niệm của Lão Trang rất coi trọng Tĩnh, Tĩnh là bản thể, thuộc tính của Đạo. Hư tương thông với Tĩnh. Có Hư tĩnh, tức không thành kiến, không tư dục, sẽ thấy được Đạo, thấy được quy luật của Đạo, đó là từ vô sinh hữu, rồi từ hữu trở về vô. Giống như tư tưởng Lão Trang, Hư tĩnh cũng là bản thể của Thiền tông. Nói đến Hư tĩnh trong Thiền-Lão tức là nói đến Hư, Không, Tĩnh. Phạm trù Hư tĩnh trong Thiền-Lão đã ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa, nghệ thuật. Khuynh hướng văn học Thiền-Lão không chỉ sùng thượng Tự nhiên, mà rất coi trọng Hư tĩnh.

Quan niệm đề cao Hư tĩnh đã được chú trọng trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc. Những tác giả trước đời Đường như Lục Cơ, Lưu Hiệp, Chung Vinh đã có những ý kiến đặt nền móng về quan niệm Hư tĩnh. Từ đời Đường, quan niệm Hư tĩnh đã trở thành một nét đặc sắc, chuẩn mực trong lý luận và trong sáng tác. Đến đời Tống – Minh – Thanh, quan niệm Hư tĩnh tiếp tục được các tác giả đề cập và phát triển thành khuynh hướng quan trọng trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc. Hư tĩnh như là một phẩm chất cao đẹp của văn chương, là bản thể của văn chương, đồng thời là nét truyền thống thẩm mỹ độc đáo trong văn học cổ Trung Quốc. Quan niệm văn học đề cao Hư tĩnh có sức ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Trung Quốc, mà còn ảnh hưởng đến văn học của nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

2.2. Hư tĩnh trong lý luận văn học cổ Việt Nam

Trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, Hư tĩnh biểu hiện khá rõ và xuyên suốt. Nếu trong văn học thời Lý – Trần, quan niệm Hư tĩnh chủ yếu được biểu hiện thông qua sáng tác, thì đến thời Lê – Nguyễn, quan niệm Hư tĩnh vừa biểu hiện qua sáng tác vừa biểu hiện trực tiếp qua những lời phát biểu mang tính lý luận.

2.2.1. Quan niệm Hư tĩnh của các tác giả thời Lý – Trần

Đối với các thiền sư, quan niệm đề cao Hư tĩnh, được biểu hiện trong sáng tác, chủ yếu gắn với  Không và tâm Hư tĩnh.

Tuy không phát biểu trực tiếp, nhưng qua sáng tác, các tác giả thời Lý – Trần đã thể hiện quan niệm về Hư tĩnh. Điều đó biểu hiện trên các phương diện cơ bản:

Thứ nhất: Các thiền sư sáng tác văn chương với Tĩnh (tâm định) và Không (tuệ không), từ đó thấy rõ “tánh không” của ngã và pháp, tiêu biểu là các sáng tác của Chân Không thiền sư, Minh Trí thiền sư, Huệ Sinh thiền sư.

Thứ hai: Sáng tác văn chương với cái “tâm hư”, trong sáng, không vụ lợi, không chấp vào bất cứ điều gì, tiêu biểu là những sáng tác của thiền sư Cứu Chỉ, thiền sư Ngộ Ấn, thiền sư Viên Chiếu, Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Thứ ba: Cùng với cái tâm Hư tĩnh, cảnh trong thơ Thiền cũng Hư tĩnh, với các bài thơ tiêu biểu của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Huyền Quang.

Thứ : Quan niệm Hư tĩnh trong Khóa hư lục của Trần Thái Tông.

2.2.2. Quan niệm Hư tĩnh của các tác giả thời Lê – Nguyễn

– Hư tĩnh qua những lời phát biểu trực tiếp

Kế thừa các bậc tiền bối, các tác giả thời Lê – Nguyễn khi bàn về văn chương chú trọng đến lợi ích của Hư tĩnh. Vì Hư tĩnh không những là phép dưỡng sinh của con người, mà còn là môi trường thuận lợi cho thơ ca. Người sáng tác văn chương cần đạt đến cái tâm thanh tĩnh, giữ tâm hồn thanh đạm thì mới có thơ hay. Ngoài tứ thơ hay, thi nhân cần có môi trường yên tĩnh, nhàn hạ, và đặc biệt là tâm không vướng mắc chuyện công danh. Người nhàn, cảnh nhàn và cái tâm thanh thản thì tự nhiên sẽ sáng tác được thơ hay.

Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, đặc biệt là từ thế kỷ XVIII, nhiều tác giả trình bày trực tiếp quan niệm Hư tĩnh trong văn chương. Tiêu biểu: Ngô Thế Lân, Trần Thế Xương, Ninh Tốn, Nguyễn Hành, Nhữ Bá Sĩ, Miên Trinh và Ngô gia văn phái. Các phát biểu của họ đều đề cao vai trò của Hư tĩnh trong sáng tác văn chương, xem Hư tĩnh là phẩm chất của văn chương.

– Hư tĩnh trong thực tiễn sáng tác

Quan niệm Hư tĩnh trong văn chương không chỉ được thể hiện thông qua những lời phát biểu trực tiếp, những tác phẩm văn học có tính lý luận, mà còn được biểu hiện thông qua sáng tác. Từ thời Lê – Nguyễn, trong thơ văn của các tác giả: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Miên Thẩm, Nguyễn Khuyến luôn có dấu ấn của Hư tĩnh.

Hư tĩnh là quan niệm văn học xuyên suốt qua hai giai đoạn văn học cổ điển Việt Nam. Qua thơ, phú hay luận thuyết, các tác giả thời Lý – Trần đều biểu hiện quan niệm Hư tĩnh. Quan niệm này trước hết mang tính triết lý Không, vô tâm và khi thể hiện trong văn chương, nó trở thành quan niệm mỹ học Hư tĩnh. Quan niệm Hư tĩnh của các tác giả thời Lý – Trần, một mặt là sự biểu hiện của chính Hư tĩnh trong tâm hồn họ, mặt khác là sự đề cao vai trò của Hư tĩnh trong sáng tác và thưởng thức văn chương. Sáng tác văn chương với cái tâm Hư tĩnh và vì vậy, cảnh trong văn chương cũng đậm màu Hư tĩnh. Nếu như quan niệm Hư tĩnh của các tác giả thời Lý – Trần biểu hiện chủ yếu dưới dạng hàm ngôn thông qua tác phẩm, thì quan niệm Hư tĩnh của các tác giả thời Lê – Nguyễn được phát biểu một cách tường minh qua các bài bạt, tựa, bình,… và trong tác phẩm mang tính lý luận. Phát biểu của các tác giả thời Lê – Nguyễn cho thấy họ rất đề cao Hư tĩnh, xem Hư tĩnh là phẩm chất của văn chương, là môi trường tối quan trọng trong sáng tác và thưởng thức văn chương. Với họ, Hư tĩnh chính là điều kiện để thấu triệt vạn vật và là thái độ của họ đối với cuộc đời nhiều ngang trái, thị phi.

2.3. Quan niệm Vô ngôn trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận văn học cổ Trung Quốc

Lão Trang và Thiền tông thống nhất quan niệm về ngôn ngữ. Cả hai đều coi trọng cái “ngoài” ngôn ngữ, cái “sau” ngôn ngữ. Vì ngôn ngữ chỉ là phương tiện, không thể biểu đạt được hết và không thể đưa con người đến được với Đạo với chân lý giác ngộ. Chính vì thế Thiền-Lão coi trọng Vô ngôn. Vô ngôn được hiểu là không lời, không nói, không văn tự. Tuy nhiên, Vô ngôn không đơn giản như thế, bởi trong đó hàm ẩn rất nhiều ý nghĩa tinh tế, uyên áo được rút ra từ quan niệm “Bất ngôn chi giáo” của Lão Tử, “Đắc ý vong ngôn” của Trang Tử và quan niệm “Bất lập văn tự” của Thiền tông.

Nghệ thuật phương Đông nói chung và văn chương nói riêng thường chú trọng cái ở ngoài lời, vừa giàu tính liên tưởng, vừa hàm chứa nhiều tầng nghĩa vừa khơi gợi trí tưởng tượng, sự khám phá nơi người đọc. Trung Quốc là trung tâm của nghệ thuật phương Đông, từ ảnh hưởng của Thiền-Lão, quan niệm Vô ngôn trong văn học cổ nói chung và trong lý luận, phê bình văn học nói riêng rất được quan tâm.

Ngay từ thời Ngụy Tấn, thời kỳ được xem là giai đoạn khởi phát và hình thành nền lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, quan niệm Vô ngôn đã được Lục Cơ đề cập. Và từ đó, quan niệm này dần trở thành tiêu chuẩn nghệ thuật cơ bản vào đời Đường, đời Tống và kéo dài cho đến đời Thanh. Trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, Vô ngôn không chỉ là yếu tố thẩm mỹ mà theo thời gian, Vô ngôn đã trở thành lý tưởng thẩm mỹ, phong cách nghệ thuật và trở thành nét truyền thống trong văn học cổ Trung Quốc.

2.4. Vô ngôn trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam

2.4.1. Quan niệm Vô ngôn của các tác giả thời Lý – Trần

Quan niệm “vô” trong Thiền tông hết sức uyên áo, nhiều sắc thái như vô tâm, vô niệm, vô ngã, vô tướng, vô pháp, vô lự, vô sự,… và Vô ngôn. Thiền tông không dùng lời nói làm phương tiện để dạy dỗ, truyền Đạo, Thiền tông dĩ tâm truyền tâm. Vì vậy, Vô ngôn là quan niệm cốt tử của các thiền sư.

Vô ngôn trong quan niệm của các thiền sư vừa là Vô ngôn trong triết lý Thiền và cũng là Vô ngôn trong thơ Thiền. Vô ngôn mở ra cảnh giới tinh thần vô hạn không chỉ riêng ở thiền sư mà còn cho những người cảm thụ.

Không chỉ ở các thiền sư, quan niệm Vô ngôn còn được các nhà nho, quý tộc thể hiện trong sáng tác của mình, tiêu biểu là Trần Quang Triều, Trần Minh Tông.

Các tác giả thời Lý – Trần đã thể hiện quan niệm Vô ngôn ngay chính trong tác phẩm. Từ quan niệm Vô ngôn của Thiền tông, họ đã thể hiện quan niệm Vô ngôn trong thơ. Đó chính là những khoảng lặng, khoảng trống nhiệm màu, là không nói nhưng lại nói rất nhiều, Vô ngôn nhưng ý lại vô cùng.

2.4.2. Quan niệm Vô ngôn của các tác giả thời Lê – Nguyễn

Sau thời Lý – Trần, tuy Nho giáo chiếm ưu thế, nhưng trong tư tưởng và quan niệm văn chương, vị thế của Thiền-Lão vẫn được duy trì và tầm ảnh hưởng vẫn lan tỏa. Các tác giả thời Lê – Nguyễn thể hiện quan niệm Vô ngôn khá phong phú và tương đối thống nhất thông qua những lời phát biểu trực tiếp. Tựu trung lại, quan niệm Vô ngôn được biểu hiện qua “Ý tại ngôn ngoại”, “Ngôn bất tận ý”, tính hàm súc, tính dư vị trong văn chương như các phát biểu của: Nguyễn Trãi, Lê Thiếu Dĩnh, Phan Huy Chú, Hoàng Đức Lương, Nguyễn Dữ, Lê Hữu Kiều, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Vị, Lê Hữu Trác, Nhữ Bá Sĩ, Đặng Huy Trứ, Miên Thẩm, Nguyễn Mại, Vũ Duy Thanh.

Quan niệm Vô ngôn đối với các tác giả thời Lý – Trần, tuy thể hiện gián tiếp qua tác phẩm, nhưng lại trực tiếp nói về quan niệm Vô ngôn trong triết lý Thiền tông và trong thơ. Vô ngôn là Thiền là phương thức giao tiếp, truyền tin “dĩ tâm truyền tâm” trong Thiền. Vô ngôn trong thơ cũng mang tính Thiền, và đó còn là sự hữu hạn của ngôn ngữ, là những khoảng trống đầy gợi mở, là không nói nhưng lại nói lên nhiều điều. Khi các tác giả thời Lê – Nguyễn phát biểu trực tiếp về quan niệm ngôn ngữ trong văn chương, Vô ngôn lại được gián tiếp thể hiện qua “Ý tại ngôn ngoại”, “Ngôn bất tận ý”, tính hàm súc và dư vị. Vô ngôn đã tạo cho thế giới ngôn ngữ văn chương trở nên bí ẩn, đầy màu sắc, nhiều tầng nghĩa, đạt đến thần diệu. Vô ngôn trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam không đơn thuần là một yếu tố thẩm mỹ mà đã được nâng lên thành lý tưởng thẩm mỹ. Vô ngôn trở thành một nét truyền thống độc đáo, để lại dấu ấn sâu đậm trong văn học cổ điển Việt Nam.

Ở Trung Quốc, quan niệm đề cao Hư tĩnh, Vô ngôn đã hình thành từ thời Tiên Tần, phát triển và hoàn thiện qua các thời từ Nam Bắc triều, Đường, Tống, Minh cho đến đời Thanh. Qua hơn hai ngàn năm, cùng với khuynh hướng Tự nhiên, khuynh hướng đề cao Hư tĩnh, Vô ngôn đã ảnh hưởng sâu đậm đến văn học Trung Quốc và các nước khác, trong đó có Việt Nam.

Văn học cổ điển Việt Nam hình thành vào khoảng thế kỷ thứ X, thời gian này, ở Trung Quốc, văn học đã phát triển rực rỡ, lý luận, phê bình văn học đã đạt đến độ hoàn thiện. Vì vậy, sự ảnh hưởng của khuynh hướng đề cao Hư tĩnh, Vô ngôn vào văn học cổ điển Việt Nam là điều không phải bàn luận. Trong lý luận văn học cổ điển Việt Nam, quan niệm Hư tĩnh, Vô ngôn khởi phát từ thời Lý – Trần phát triển hoàn thiện trong thời Lê – Nguyễn. Nếu như thời Lý – Trần, quan niệm Hư tĩnh, Vô ngôn chủ yếu được biểu hiện qua tác phẩm văn chương, thì đến thời Lê – Nguyễn, quan niệm này được bộc lộ chủ yếu qua các lời tựa, lời bạt, lời bình,… Quan niệm Hư tĩnh, Vô ngôn đã góp phần quan trọng tạo nên sự uyên áo, nét đặc sắc và giá trị trường tồn cho văn học cổ điển Việt Nam.

III. Phạm trù Tiêu dao và Bình đạm

          3.1. Tiêu dao trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận văn học cổ Trung Quốc

Tiêu dao ban đầu là quan niệm của Lão Trang, sau đó là của Thiền tông. Tiêu dao vừa mang quan niệm vô vi của triết học Lão Trang, vừa bao hàm tư tưởng giải thoát của Phật giáo Thiền tông. Tiêu dao không chỉ là quan niệm quan trọng trong tư tưởng Thiền-Lão, mà đã trở thành một khuynh hướng nghệ thuật trong văn học cổ Trung Quốc. Quan niệm Tiêu dao trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thời Ngụy Tấn và kéo dài đến tận thời Minh, Thanh. Tiêu biểu như: Lục Cơ, Lưu Hiệp, Lý Bạch, Thích Hiệu Nhiên, Tư Không Đồ, Tô Đông Pha, Nghiêm Vũ, Âu Dương Tu, Viên Mai. Trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, Tiêu dao không chỉ là yếu tố thẩm mỹ, theo thời gian, Tiêu dao trở thành lý tưởng, phong cách nghệ thuật với sức ảnh hưởng không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở các nước thuộc khu vực chữ Hán, trong đó có Việt Nam.

3.2. Tiêu dao trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam

So với Tự nhiên, Hư tĩnh, phạm trù Tiêu dao trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam biểu hiện tương đối đơn điệu, mờ nhạt qua những lời phát biểu trực tiếp, nhưng lại khá đa dạng, rõ nét trong thực tiễn sáng tác. Dù là trực tiếp hay gián tiếp, Tiêu dao thể hiện qua hai nội dung: Quan niệm Tiêu dao và phong cách nghệ thuật Tiêu dao.

3.2.1. Quan niệm Tiêu dao

– Quan niệm Tiêu dao của các tác giả thời Lý – Trần

Đối với các thiền sư, Tiêu dao là vượt ra khỏi những giới hạn tầm thường, sống tự tại, tùy duyên, không vướng mắc vào thứ gì. Tịnh Không, Quảng Nghiêm, Tuệ Trung, Huyền Quang, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn là những tác giả thể hiện rất rõ quan niệm này.

– Quan niệm Tiêu dao của tác giả thời Lê – Nguyễn

Qua tác phẩm hay qua những lời bàn trực tiếp, quan niệm Tiêu dao của các tác giả thời Lê – Nguyễn đều có sự tiếp nối từ quan niệm thời Lý – Trần, tuy nhiên vẫn có những biểu hiện riêng gắn với cuộc đời hơn. Đó là quan niệm Tiêu dao gắn với “nhàn”, Tiêu dao là vượt qua những vướng bận về danh lợi.

Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm Tiêu dao gắn với “nhàn”.

Lý Tử Tấn quan niệm Tiêu dao là hòa hợp với tự nhiên, bằng lòng với phận vị. Ngô Thì Ức quan niệm Tiêu dao là lãng du, không màng đến việc gì, không cầu cạnh ai và cao nhất của Tiêu dao chính là vô sự, vô tư, vô lự. Với Lê Hữu Trác, Tiêu dao là thoát khỏi vinh nhục trong cuộc đời và tự do cùng mây núi. Nhữ Bá Sĩ cho rằng làm thơ, ngoài Hư tĩnh, thì phải Tiêu dao đến vô cùng, tức là phải đưa tinh thần ra ngoài tám cõi, thả tâm chí trên muôn tầm. Cũng là quan niệm Tiêu dao, nhưng Ngô Thì Hoàng, Cao Bá Quát, Miên Trinh thì bộc lộ ở thái độ bằng lòng, than trách vì không được Tiêu dao.

Quan niệm Tiêu dao của các tác giả văn học thời Lý – Trần và thời Lê – Nguyễn đều mang sắc thái Tiêu dao của Thiền-Lão. Với họ, Tiêu dao là vượt ra khỏi những vướng bận của cuộc đời chật hẹp, tung cánh tự do trong vũ trụ bao la, sống huyền đồng với vạn vật, không nương nhờ bất kỳ thứ gì. Tiêu dao của họ đã đạt đến tuyệt đối với trạng thái vô tâm, vô niệm, vô ngã, vô sự. Lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam không chỉ có quan niệm Tiêu dao như đã bàn, mà Tiêu dao còn thể hiện ở phong cách nghệ thuật.

3.2.2. Phong cách nghệ thuật Tiêu dao

– Phong cách Tiêu dao qua những lời bàn trực tiếp

Qua lời của Lê Quý Đôn, Phan Huy Ích, Phan Huy Chú, phong cách Tiêu dao thường gắn với biểu hiện của tự do, phóng khoáng, phiêu dật mang màu sắc Thiền-Lão.

– Phong cách Tiêu dao của một số tác giả tiêu biểu

Phong cách Tiêu dao trong văn chương cổ điển Việt Nam được hình thành, phát triển từ thời Lý – Trần đến thời Lê – Nguyễn, tiêu biểu như Tuệ Trung, Lý Tử Cấu, Ninh Tốn, Miên Thẩm, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát. Trong những tác giả này, có lẽ chỉ một mình Tuệ Trung mới có phong cách Tiêu dao, phiêu dật như kiểu Lý Bạch, những tác giả còn lại, Tiêu dao chỉ mới dừng lại ở mức độ sắc thái.

3.3. Bình đạm trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận văn học cổ Trung Quốc

Bình đạm có nguồn gốc chủ yếu từ tư tưởng Lão Trang và Thiền tông. Bình đạm bao hàm ý nghĩa nhẹ mà cạn tương thông với “hư”, “vô”, “tĩnh”. Chỉ có Bình đạm mới có thể tĩnh lặng, mới có thể phá chấp, vô ngã. Bình đạm là kết quả của mối giao hòa độc đáo của Thiền tông và Lão Trang. Hai tư tưởng có sự đồng điệu rất đặc biệt, trong đó cả hai đều đề cao Tự nhiên, Hư tĩnh. Có thể nói rằng Bình đạm là Đức của Đạo, vì vậy Bình đạm vừa là bản thể, vừa là quy luật, đồng thời là dụng của Đạo.

Bản chất của Bình đạm bao gồm mộc, phác, chuyết, hư vị. Từ phương diện nghệ thuật, Bình đạm có nghĩa là phẳng lặng, nhạt. Tuy nhiên, phẳng lặng và nhạt ở đây là một cảm thức thẩm mỹ với nội hàm rất uyên áo.

Trong nghệ thuật, Bình đạm biểu hiện rất rõ và thống nhất trong hội họa, thơ và nhạc. Đó là tôn sùng sự giản dị, bình thường, mờ ảo, phẳng lặng Ở Trung Quốc, ban đầu Bình đạm bị xem như là giá trị tiêu cực, không được đánh giá cao trong quan niệm sáng tác. Sau đó, ý thức được rằng đằng sau sự tẻ nhạt, bình dị, dửng dưng là cả khoảng trống nhiệm mầu, một sự nồng ấm đến vô tận. Vì vậy, Bình đạm trở thành giá trị tích cực và có ý nghĩa quan trọng trong sáng tác văn chương.

Từ thời Lục Triều, Lưu Hiệp đã có quan niệm về Bình đạm, Chung Vinh khi bàn về thơ đã đề cập trực tiếp đến yếu tố Bình đạm. Đời Đường, Bình đạm trong lý luận mang ý nghĩa tích cực, tường minh, tiêu biểu là Tư Không Thự. Đời Tống, Mai Nghiêu Thần, Âu Dương Tu, Nghiêm Vũ xem Bình đạm là lý tưởng sáng tạo thi ca. Đến đời Thanh, Bình đạm được công nhận như một ý thức hệ như quan niệm của Lưu Đại Khôi, Viên Mai, Vương Sĩ Chân.

 

3.4. Bình đạm trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam

Biểu hiện của Bình đạm trong lý luận, phê bình nói riêng và trong văn học cổ điển Việt Nam rất uyên áo, đa dạng. Cũng giống như Tiêu dao, Bình đạm biểu hiện qua hai nội dung chủ yếu: Quan niệm Bình đạm và phong cách nghệ thuật Bình đạm.

3.4.1. Quan niệm Bình đạm

Quan niệm Bình đạm thể hiện trên hai khía cạnh:

Thứ nhất: Một số tác giả thông qua nhận xét về văn chương thời xưa, về các tác giả mà mình ái mộ, để từ đó nêu lên quan niệm Bình đạm của mình. Tiêu biểu: Nguyễn Dữ, Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Nguyễn Văn Siêu, Nhữ Bá Sĩ, Miên Trinh, Nguyễn Đức Đạt,…

Thứ hai: Một số tác giả khác trình bày trực tiếp quan niệm Bình đạm của mình qua các bài bạt, tựa, bình. Tiêu biểu: Nguyễn Dữ, Nguyễn Cư Trinh, Vũ Phương Đề, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Dưỡng Hạo, Vũ Duy Thanh,… Các tác giả này đã đề cập đến Bình đạm ở các phương diện: ý nghĩa của Bình đạm, Bình đạm gắn với tự nhiên, sự thô vụng, giản dị; Bình đạm dưới góc độ ngôn từ; Bình đạm gắn với tư tưởng.

3.4.2. Phong cách nghệ thuật Bình đạm

Như đã nói, quan niệm Bình đạm trong văn chương mang màu sắc Thiền-Lão, vì vậy, trong thơ cổ điển Việt Nam, Bình đạm chủ yếu được biểu hiện trong thơ Thiền và một số tác giả cổ điển có thiên hướng gắn với tư tưởng Thiền-Lão. Và cũng chính điều đó, phong cách Bình đạm trong thơ cổ điển Việt Nam thường được biểu hiện chủ yếu qua bốn dạng thức: Tư tưởng hòa đồng, lấy cảm hứng từ thiên nhiên; Những gam màu nhạt trong thơ; Ngôn ngữ giản dị, hàm súc, tứ thơ ngắn gọn; Sự dửng dưng của người nghệ sĩ.

Cũng giống như Trung Quốc, Bình đạm trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam không đơn thuần là một yếu tố thẩm mỹ, mà đã được nâng lên thành lý tưởng thẩm mỹ và phong cách nghệ thuật. Bình đạm trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam có ảnh hưởng từ quan niệm Bình đạm của văn học cổ Trung Quốc, nhưng mang dấu ấn Việt Nam. Bởi nó gắn với tình yêu quê hương, đất nước; gắn với cách sống giản dị, liêm chính; cách ứng xử linh hoạt, an nhiên, tự tại của người Việt Nam. Sở dĩ Bình đạm được yêu thích, vì nó gắn với sự giản dị, lạt, dợt, ít, mỏng, sơ sài,… rồi từ đó những khoảng không, rỗng, lặng hiện ra; nó hiện ra cái u, cái tế, cái vi, cái mật, cái huyền, cái viễn, cái thâm, cái vô cùng,… nó là sự giản dị giàu sức gợi, chứ không phải là giản dị nghèo nàn.

Các phạm trù Tiêu dao, Bình đạm là kết tinh từ tư tưởng Thiền-Lão,  phát triển và tạo nên nét đặc sắc trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc. Trong lý luận và sáng tác văn học cổ điển Việt Nam, các phạm trù này được hình thành, phát triển từ thời Lý – Trần đến thời Lê – Nguyễn. Ban đầu nó như là một yếu tố thẩm mỹ, theo thời gian cả hai phạm trù này trở thành lý tưởng thẩm mỹ và phong cách nghệ thuật.

Sở dĩ Tiêu dao, Bình đạm rất được ưa chuộng và có sức hấp dẫn đối với văn học các nước thuộc khu vực văn hóa chữ Hán nói chung và văn học cổ điển Việt Nam nói riêng, trước hết vì mang tính tư tưởng. Thứ nhất, nó gắn với lý tưởng, tâm hồn và nhân cách của người nghệ sĩ. Thứ hai, vì nó gắn liền với thị hiếu thẩm mỹ sùng thượng Tự nhiên, đề cao Hư tĩnh và phù hợp với truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc của người Việt Nam. Thứ ba, vì Tiêu dao, Bình đạm gắn với sự siêu thoát nội tâm mà cả Thiền tông và Lão Trang đem đến cho con người.

  1. Kết luận

Sự hòa hợp kỳ diệu giữa Lão Trang và Thiền tông đã sản sinh ra các phạm trù Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm. Trong các phạm trù này thì Tự nhiên, Hư tĩnh đóng vai trò là thể nền, là trung tâm liên kết, chi phối các phạm trù còn lại. Các phạm trù này đều có nguồn gốc từ tư tưởng Thiền-Lão, hình thành và phát triển hoàn thiện trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc từ thời Nam Bắc triều đến thời Minh, Thanh. Những phạm trù này, khởi phát chỉ là những yếu tố thẩm mỹ, cùng với thời gian đã phát triển thành lý tưởng thẩm mỹ và trở thành văn thống của Trung Quốc. Trong văn học cổ Trung Quốc, các phạm trù này biểu hiện ở khuynh hướng sùng thượng Tự nhiên, yêu chuộng Hư tĩnh, Vô ngôn và đề cao Tiêu dao, Bình đạm. Cùng với quá trình phát triển, các phạm trù này đã ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn học của các nước thuộc khu vực chữ Hán, trong đó có Việt Nam. Điều cần lưu ý là những phạm trù này cũng ít nhiều biểu hiện trong tư tưởng văn học mang khuynh hướng Nho giáo. Tuy nhiên, ở mức độ đậm đặc và trở thành khuynh hướng sùng thượng thì chỉ có ở Thiền-Lão.

Qua khảo sát, nghiên cứu hai giai đoạn văn học thời Lý – Trần và thời Lê – Nguyễn, chúng tôi nhận thấy rằng: Khuynh hướng sùng thượng Tự nhiên, yêu chuộng Hư tĩnh, Vô ngôn và đề cao Tiêu dao, Bình đạm trong lý luận, phê bình văn học Việt Nam là một trong những khuynh hướng chủ đạo, xuyên suốt. Xét về mặt lịch đại, thời Lý – Trần, khuynh hướng này chủ yếu biểu hiện gián tiếp, thông qua tác phẩm; đến thời Lê – Nguyễn, khuynh hướng này chủ yếu biểu hiện trực tiếp, thông qua những bài bạt, tựa, bình,… và một số công trình mang tính lý luận. Về mặt loại hình tác giả, điều khá lý thú là: Tuy giữa thiền sư, quý tộc, nho sĩ có sự khác nhau nhất định về vị thế, tư tưởng, cách “xuất”, “xử”; nhưng ở họ có sự tương đồng về khuynh hướng sùng thượng Tự nhiên, yêu chuộng Hư tĩnh, Vô ngôn và đề cao Tiêu dao, Bình đạm trong quan niệm văn học. Dĩ nhiên, trừ các vị thiền sư, không phải tất cả các quý tộc, nho sĩ nào trong văn học cổ điển Việt Nam cũng đều biểu hiện rõ nét thiên hướng này. Một số quý tộc, nho sĩ, trong quan niệm văn học còn biểu hiện các khuynh hướng khác như khuynh hướng đề cao đạo đức, khuynh hướng đề cao chủ nghĩa yêu nước, khuynh hướng đề cao con người cá nhân và nghệ thuật tài tử.

Sự ảnh hưởng và việc tiếp nhận tư tưởng lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc đến lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu bàn đến. Tuy vẫn có những ý kiến chưa đồng nhất về mức độ, phạm vi ảnh hưởng cũng như tâm thế tiếp nhận, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận có sự ảnh hưởng khá toàn diện của tư tưởng lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc đến quan niệm văn học cổ điển Việt Nam, tiêu biểu như: Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Giang, Nguyễn Công Lý, Phạm Quang Trung, Nguyễn Đình Phức, Nguyễn Thanh Tùng,…). Qua nghiên cứu các phạm trù Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc và trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, bài viết làm rõ hơn hai vấn đề, đó là sự ảnh hưởng từ Trung Quốc và cách tiếp nhận của Việt Nam.

Nếu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đến quan niệm văn học Việt Nam có cả mặt tiêu cực lẫn tích cực, thì sự ảnh hưởng của tư tưởng Thiền-Lão chủ yếu thể hiện ở khía cạnh tích cực. Điều này thể hiện ở những điểm sau:

– Khuynh hướng Thiền-Lão được hình thành từ thời Ngụy – Tấn, Nam Bắc triều, đến thời Đường, Tống đã trở thành khuôn mẫu. Việt Nam, đến thời kỳ này, nền văn học mới hình thành bắt đầu từ đời Lý. Không tính đến yếu tố áp đặt, chi phối, rõ ràng khuynh hướng Thiền-Lão đã trở thành nguyên mẫu để văn học Việt Nam học tập, kế thừa và cải biến. Trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, các phạm trù Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm vừa là những nguyên mẫu, vừa mang đậm dấu ấn bản sắc Việt. Các phạm trù này, ban đầu cũng chỉ là yếu tố nghệ thuật, theo thời gian trở thành lý tưởng thẩm mỹ, phong cách nghệ thuật và tạo nên khuynh hướng văn học độc lập. Các phạm trù này ở Trung Quốc chủ yếu thể hiện qua quan niệm thơ và ở Việt Nam cũng tương tự như thế.

– Không chỉ đóng vai trò là nguyên mẫu, khuynh hướng Thiền-Lão đã tạo động lực để thúc đẩy sự phát triển ngày càng tự giác, hoàn thiện hơn đối với quan niệm văn học Thiền-Lão của Việt Nam, nhất là từ đời Trần trở về sau. Thực tế cho thấy, những mầm móng quan niệm văn học đã xuất hiện trong sáng tác văn học chữ Hán của người Việt trước thế kỷ X. Nhưng phải có vai trò thúc đẩy, xung lực của quan niệm văn học Thiền-Lão của Trung Quốc, thời Lý – Trần mới khởi nguyên và hình thành khuynh hướng Thiền-Lão trong văn học, dù ở hình thức gián tiếp thông qua tác phẩm văn học. Sau đó, cùng với thực tiễn sáng tác của văn học Việt Nam, vai trò của nguyên mẫu và các lý thuyết về sau này như Hư tĩnh, Tính linh, Cách điệu, Thần vận,… từ Trung Quốc, khuynh hướng Thiền-Lão trong văn học Việt Nam đã mang tính tự giác, biểu hiện trực tiếp thông qua các bài bạt, tựa, bình,… và một số công trình có tính lý luận. Từ đó khuynh hướng Thiền-Lão mang tính hệ thống và trở thành một trong những khuynh hướng chủ đạo trong văn học cổ điển Việt Nam.

Từ sự ảnh hưởng như vậy, cách tiếp nhận của Việt Nam cũng có những nét tích cực riêng. Đó là sự tiếp nhận chủ động, có chọn lọc, điều tiết và mang tính tổng hợp.

– Tính chủ động thế hiện ở hai điểm. Thứ nhất, như đã nói, khi nền văn học Việt Nam hình thành thì khuynh hướng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc đã trở thành khuôn mẫu, do vậy khi tiếp nhận ảnh hưởng, đã có độ lùi về thời gian. Vì vậy, văn học Việt Nam đã có sự chủ động chọn lọc những gì tinh túy nhất để tiếp nhận. Thứ hai, trên thực tế, khi sự ảnh hưởng của khuynh hướng Thiền-Lão vào Việt Nam, thì ở Việt Nam đã và đang hình thành các tông phái Thiền, tiêu biểu như dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, dòng Thiền Vô Ngôn Thông, dòng Thiền Thảo Đường, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử,… Vì vậy, khi tiếp nhận khuynh hướng Thiền-Lão từ Trung Quốc, Việt Nam đã có đủ nội lực Thiền học để chủ động “gạn đục khơi trong” trong tâm thế tiếp nhận.

– Từ chủ động trong tiếp nhận, quan niệm văn học nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung đã có sự chọn lọc, điều tiết những gì tinh túy và cần thiết nhất từ những nguyên mẫu mang khuynh hướng Thiền-Lão của Trung Quốc. Khuynh hướng văn học Thiền-Lão của Việt Nam có hai điểm thể hiện rõ sự tiếp nhận có chọn lọc và điều tiết. Một là, ít bàn về những vấn đề cao siêu, trừu tượng như “nhập thần”, “diệu ngộ”, “dĩ thiền dụ thi”,.. mà chỉ chủ yếu đề cập đến những biểu hiện của các phạm trù cụ thể, gần gũi như Tự nhiên, Bình đạm, Hư tĩnh; bên cạnh đó, khuynh hướng văn học Thiền-Lão Việt Nam, ít ngôn luận mà chủ yếu ứng dụng vào thực tiễn sáng tác. Hai là, trong lịch sử lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, điều khá nổi bật là tồn tại rất nhiều lý thuyết và những cuộc tranh biện (có khi rất gay gắt) diễn ra thường xuyên. Ở Việt Nam, lý luận, phê bình văn học nói chung, khuynh hướng văn học Thiền-Lão nói riêng ít lý thuyết, rất ít trường phái và ngôn luận không nhiều, lời lẽ ngôn luận không mấy gay gắt.

– Cũng chính có độ lùi thời gian, nên trong tiếp nhận, khuynh hướng Thiền-Lão trong văn học Việt Nam có tính tổng hợp. Chúng ta đã tiếp thu một cách tổng thể, lựa chọn những thành tựu của nhiều tác giả Trung Quốc có quan niệm văn học Thiền-Lão của nhiều thời kỳ. Các phạm trù Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam như Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm được đúc kết, tinh tuyển từ lịch sử gần hai ngàn năm của hàng chục tác giả Trung Quốc là tiêu biểu cho điều đó. Mặt khác, ngay trong chính mỗi tác giả Việt Nam, tính tổng hợp trong tiếp nhận cũng thể hiện rõ. Họ không chỉ tiếp thu một mà nhiều tác giả Trung Quốc, quan niệm văn học của họ cũng không chỉ có khuynh hướng Thiền-Lão mà có cả các tư tưởng khác.

Với sự tiếp nhận chủ động, có chọn lọc, điều tiết, mang tính tổng hợp như vậy, cho nên đó là sự tiếp nhận tích cực, sáng tạo và mang bản sắc Việt Nam. Bởi sự tiếp nhận đó gắn với tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc Việt, gắn với tâm hồn bao dung, hòa hợp của người Việt Nam,…

 

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Duy Cần (1971), Tinh hoa Đạo học Đông phương, Nxb Khai Trí, Sài Gòn.
  2. Nguyễn Duy Cần (1971), Lão Tử Đạo đức kinh, Nxb Khai Trí, Sài Gòn.
  3. Nguyễn Duy Cần (1971), Trang Tử tinh hoa, Nxb Khai Trí, Sài Gòn.
  4. Dương Ngọc Dũng (1999), Dẫn nhập tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc, Nxb Văn học, Hà Nội.
  5. Will Durant (1990), Lịch sử văn minh Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê dịch, Nxb ĐHSP TPHCM.
  6. Trần Thanh Đạm, Phạm Thị Hảo (2007), Lưu Hiệp Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, Hà Nội.
  7. Lê Giang (2001), Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, ĐHQG TPHCM.
  8. Lê Giang (2005), Tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc – Lịch sử và tư liệu, đề tài NCKH cấp trường, trường KHXH&NV TPHCM.
  9. Đỗ Văn Hỷ (1993), Người xưa bàn về văn chương, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

10. François Jullien (2004), Bàn về cái nhạt, Trương Thị Na dịch, Nxb Đà Nẵng.

11. Nguyễn Công Lý (1997), Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý – Trần, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

12. Nguyễn Công Lý (2002), Văn học Phật giáo thời Lý – Trần: diện mạo và đặc điểm, Nxb ĐHQG TPHCM.

  1. Phương Lựu (2016), Thi học cổ điển Trung Quốc- Học phái Mệnh đề Phạm trù, Nxb ĐHSP Hà Nội.
  2. Nguyễn Minh Tấn (1981) (chủ biên), Từ trong di sản… , Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
  3. Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn (2007) (sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu), Mười thế kỷ bàn luận về văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  4. 朱 东润 (2001), 中国 评史大纲, 上海古籍出版社, 上海.
  5. 17. 罗根择 (2003), 中国文学批评史, 上海書舘出版社, 上海.